Trong đơn đăng ký nhãn hiệu, danh mục hàng hoá, dịch vụ là phần nói rõ nhãn hiệu sẽ được bảo hộ cho những sản phẩm nào, những dịch vụ nào. Mẫu nhãn trả lời câu hỏi “bảo hộ dấu hiệu gì”, còn danh mục trả lời câu hỏi “bảo hộ cho cái gì”. Hai phần này cộng lại mới thành phạm vi quyền mà văn bằng ghi nhận cho bạn.
Nhiều người tự nộp đơn dồn hết sức vào logo, còn danh mục thì chép vội vài dòng từ đâu đó. Đến khi có tranh chấp hoặc khi bị Cục Sở hữu trí tuệ đối chiếu với đơn của người khác, chính mấy dòng chép vội ấy lại quyết định kết quả. Bài này đi qua cấu trúc của danh mục, nguyên tắc viết từng dòng mô tả và những câu hỏi nên tự đặt ra trước khi bấm nộp.
Danh mục quyết định điều gì trong quyền nhãn hiệu
Quyền đối với nhãn hiệu ở Việt Nam không phải quyền tuyệt đối với một cái tên. Nó là quyền dùng dấu hiệu đó cho những hàng hoá, dịch vụ đã ghi trong văn bằng, và quyền ngăn người khác dùng dấu hiệu trùng hoặc tương tự cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn. Vì vậy, cùng một chữ có thể thuộc về hai chủ khác nhau nếu một bên làm nước mắm, bên kia làm phần mềm kế toán.
Danh mục ảnh hưởng tới ba thời điểm. Lúc thẩm định, chuyên viên của Cục so sánh danh mục của bạn với danh mục của các đơn và văn bằng có trước để xem có trùng hay tương tự không. Lúc dùng nhãn, bạn chỉ chắc chắn được bảo hộ với những gì đã ghi. Lúc có tranh chấp, bên kia sẽ soi xem sản phẩm đang bị nhái có nằm trong danh mục của bạn không, và bạn có thực sự dùng nhãn cho những thứ đã khai hay chỉ khai cho có.
Hiểu như vậy thì thấy danh mục không phải thủ tục hành chính cho đủ hồ sơ. Đó là phần “nội dung kinh tế” của văn bằng. Một mẫu nhãn đẹp đi cùng một danh mục lệch với việc kinh doanh thật thì giống như mua bảo hiểm cho chiếc xe bạn không lái.
Cấu trúc một danh mục trong đơn
Danh mục được trình bày theo nhóm của Bảng phân loại quốc tế hàng hoá, dịch vụ (thường gọi là Bảng phân loại Nice). Trong mỗi nhóm, bạn liệt kê các sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể. Bảng dưới tóm tắt các thành phần và lỗi hay gặp ở từng thành phần.
| Thành phần | Nội dung | Lỗi hay gặp |
|---|---|---|
| Số nhóm | Bảng phân loại có 45 nhóm: nhóm 1 đến 34 là hàng hoá, nhóm 35 đến 45 là dịch vụ | Ghi sản phẩm vào nhóm không đúng, ví dụ đặt dịch vụ cho thuê vào nhóm của chính món hàng |
| Tên sản phẩm, dịch vụ | Từng mục cụ thể trong nhóm, ngăn cách nhau rõ ràng | Dùng cụm chung chung như “các loại hàng hoá”, “sản phẩm tương tự” |
| Thứ tự trình bày | Các nhóm xếp theo số tăng dần, mỗi nhóm một đoạn | Trộn hàng hoá của nhiều nhóm trong một dòng |
| Ngôn ngữ | Tiếng Việt, dùng thuật ngữ thông dụng hoặc thuật ngữ có trong bảng phân loại | Để nguyên tên tiếng Anh tiếp thị, viết tắt nội bộ |
| Số lượng mục | Không giới hạn cứng, nhưng phí tính theo nhóm và theo số mục vượt mức trong nhóm | Liệt kê hàng chục mục chỉ để “phủ cho chắc”, kéo theo phí và rủi ro không sử dụng |
Bảng phân loại có phần chú giải cho từng nhóm và một danh sách tra theo vần. Danh sách đó không bao quát mọi sản phẩm trên đời; nó là chỗ dựa để bạn chọn từ ngữ và kiểm tra mình đặt đúng nhóm. Bài này không đi vào cách chọn nhóm theo ngành, mà tập trung vào cách viết từng dòng sao cho đúng ý.
Bốn nguyên tắc khi viết một dòng mô tả
Viết theo bản chất, không theo tên thương mại. Sản phẩm của bạn có thể tên là “Sương Mai Mist”, nhưng trong danh mục, nó là “nước hoa hồng dùng cho da mặt” hay “nước xịt khoáng dùng trong mỹ phẩm”. Chuyên viên thẩm định cần biết món hàng là gì, dùng vào việc gì, chứ không cần biết bạn quảng cáo nó thế nào.
Mỗi mục là một thứ xác định được. Một người đọc danh mục phải hình dung được món hàng đó trên kệ hoặc dịch vụ đó trong thực tế. “Đồ dùng gia đình” không xác định được; “nồi nấu ăn”, “chảo chống dính”, “hộp đựng thực phẩm bằng nhựa” thì xác định được.
Đúng nhóm theo công dụng hoặc chất liệu. Cùng một chữ “túi” có thể rơi vào nhóm khác nhau tuỳ đó là túi xách thời trang, túi đựng dụng cụ y tế hay túi nhựa đóng gói. Khi do dự, hãy hỏi món hàng dùng để làm gì trước, rồi mới hỏi nó làm bằng gì.
Khớp với kế hoạch thật trong vài năm tới. Danh mục nên phủ những gì bạn đang bán và những gì có kế hoạch cụ thể sẽ bán. Phủ thêm những thứ không bao giờ làm không mang lại lợi ích gì, mà còn tạo khe hở để người khác yêu cầu chấm dứt hiệu lực phần đó nếu bạn không sử dụng trong thời gian dài.
Quy trình tự soạn danh mục trước khi nộp
Danh mục tốt thường không ra đời trong một lần ngồi. Trình tự dưới đây giúp bạn đi từ việc kinh doanh thật tới văn bản trong đơn mà không bỏ sót.
- Liệt kê tất cả sản phẩm, dịch vụ đang mang nhãn hoặc sẽ mang nhãn, bằng ngôn ngữ đời thường, kể cả những thứ bạn chỉ bán kèm hay tặng kèm.
- Gạch bỏ những thứ không thực sự mang nhãn của bạn, ví dụ hàng mua về bán lại vẫn mang nhãn của nhà sản xuất khác.
- Viết lại từng thứ theo bản chất và công dụng, dùng thuật ngữ thông dụng; đối chiếu với danh sách tra theo vần của bảng phân loại để mượn cách gọi đã được chấp nhận khi có.
- Xếp từng mục vào nhóm, đọc chú giải của nhóm để chắc rằng mục đó không bị loại trừ sang nhóm khác.
- Gom các mục theo nhóm, xếp theo số tăng dần; kiểm tra không có cụm mơ hồ, không có tên riêng hay nhãn hiệu của người khác lọt vào mô tả.
- Đọc lại toàn bộ danh mục như người ngoài: nếu chỉ đọc danh mục, họ có hình dung được bạn kinh doanh gì không.
- Tra trước nhãn hiệu tương tự trong đúng các nhóm đã chọn, ví dụ trên TraCuuThuongHieu.com hoặc cơ sở dữ liệu của Cục, rồi mới chốt danh mục.
Bước tra trước nằm cuối không phải vì nó ít quan trọng, mà vì chỉ khi có danh mục rõ ràng, việc tra mới có trọng tâm. Tra một cái tên mà không biết sẽ dùng cho gì thì kết quả trả về rất nhiều và khó đánh giá.
Ví dụ giả định: một cơ sở cà phê ở Lâm Đồng
Ví dụ giả định: chị Hạnh có một cơ sở rang xay ở Lâm Đồng, bán cà phê hạt và cà phê bột đóng gói qua mạng, có một quầy nhỏ pha chế cho khách ghé thăm vườn, và đang tính làm thêm trà túi lọc từ lá cà phê. Chị định đặt tên nhãn là “Mây Đồi”.
Nếu chị chỉ ghi “cà phê” trong nhóm 30, phạm vi đã bao trùm cà phê hạt, cà phê bột, cà phê hoà tan. Đó là thuật ngữ chung nhưng đủ xác định, nên thường được chấp nhận. Trà túi lọc từ lá cà phê thì cần cân nhắc: đây có phải “trà” theo nghĩa của bảng phân loại không, hay là “đồ uống làm từ thảo mộc”? Chị nên mô tả theo bản chất của nguyên liệu và cách dùng, thay vì đặt một cái tên thương mại.
Quầy pha chế cho khách là dịch vụ cung cấp đồ uống, thuộc nhóm 43, không nằm trong nhóm 30. Còn việc bán qua mạng thì cần hiểu đúng: bán sản phẩm do chính mình làm ra đã được che bởi nhóm 30; chỉ khi chị mở một gian hàng bán nhiều mặt hàng của nhiều nơi thì mới cần nghĩ tới dịch vụ bán lẻ. Chỉ một ví dụ nhỏ cũng cho thấy danh mục phải xuất phát từ việc kinh doanh thật, không phải từ một bản mẫu chép lại.
Những dấu hiệu cho thấy danh mục của bạn cần sửa trước khi nộp
Đọc lại bản nháp và đánh dấu nếu gặp một trong các tình huống dưới đây. Mỗi dấu hiệu đều từng là lý do khiến đơn bị yêu cầu sửa, kéo dài thời gian xử lý hoặc để lộ khe hở khi tranh chấp.
- Có cụm “v.v.”, “và các sản phẩm khác”, “các loại”, “phụ kiện” mà không nói phụ kiện của cái gì.
- Có tên tiếng Anh hoặc tên thương mại thay cho tên gọi thông thường của sản phẩm.
- Một dòng mô tả trộn hàng hoá và dịch vụ, ví dụ “bán và sửa chữa xe đạp”.
- Có sản phẩm bạn không làm, không bán, không có kế hoạch nào, chỉ ghi cho “phủ rộng”.
- Thiếu những sản phẩm đang bán chạy nhất, vì nghĩ chúng “đương nhiên” được bảo hộ.
- Có từ ngữ mang tính khen ngợi như “cao cấp”, “chính hãng”, “tốt nhất” trong mô tả.
- Danh mục giống hệt đơn của một doanh nghiệp khác mà bạn tìm thấy, kể cả các mục không liên quan tới bạn.
Danh mục không cần dài mới tốt. Một danh mục gọn, đúng nhóm, mô tả rõ thường đi qua thẩm định trơn tru hơn và dễ bảo vệ hơn khi có tranh chấp.
Danh mục và những việc sẽ xảy ra sau khi nộp
Khi đơn đã nộp, quyền sửa danh mục bị giới hạn theo một hướng: bạn có thể thu hẹp, làm rõ, sửa lỗi xếp nhóm, nhưng không thể mở rộng sang hàng hoá, dịch vụ chưa có trong đơn ban đầu. Muốn bảo hộ thêm sản phẩm mới thì phải nộp đơn mới, với ngày nộp đơn mới. Đây là lý do người làm nghề luôn dặn: thời điểm cân nhắc kỹ nhất là trước khi nộp.
Trong quá trình thẩm định, nếu Cục thấy một mục mô tả không rõ hoặc xếp sai nhóm, bạn sẽ nhận thông báo yêu cầu sửa trong một thời hạn nhất định. Nếu một phần danh mục bị cho là trùng hoặc tương tự với nhãn có trước, bạn có thể được đề nghị bỏ phần đó để giữ phần còn lại. Danh mục càng được chia rõ từ đầu thì những lúc này càng dễ xoay xở.
Sau khi được cấp, danh mục trở thành căn cứ để bạn dùng nhãn hợp pháp và để bảo vệ quyền. Nhãn dùng cho sản phẩm nằm ngoài danh mục thì không được che bởi văn bằng ấy. Vì vậy, mỗi khi doanh nghiệp mở dòng sản phẩm mới, câu hỏi đầu tiên nên là: dòng này đã nằm trong danh mục đã đăng ký chưa.
Câu hỏi thường gặp
Có bắt buộc phải ghi danh mục theo đúng tên trong Bảng phân loại Nice không?
Không bắt buộc dùng nguyên văn, nhưng dùng thuật ngữ có trong bảng phân loại hoặc danh sách tra theo vần giúp giảm khả năng bị yêu cầu sửa. Nếu sản phẩm của bạn không có tên trong đó, bạn có thể mô tả bằng từ ngữ thông dụng, rõ bản chất và công dụng.
Nộp đơn một nhóm thì có cần liệt kê nhiều sản phẩm không?
Bạn chỉ cần liệt kê những sản phẩm thực sự mang nhãn hoặc có kế hoạch cụ thể. Một danh mục ngắn nhưng đúng vẫn có giá trị bảo hộ; phí cũng tính theo số nhóm và số mục vượt mức trong mỗi nhóm, nên liệt kê tràn lan không có lợi.
Danh mục có ảnh hưởng tới việc nhãn bị từ chối không?
Có. Khi thẩm định nội dung, Cục so sánh cả dấu hiệu lẫn hàng hoá, dịch vụ. Hai nhãn giống nhau nhưng dùng cho sản phẩm không liên quan có thể cùng tồn tại; danh mục càng rộng thì khả năng đụng nhãn có trước càng lớn.
Có thể sửa danh mục sau khi nộp đơn không?
Có thể sửa theo hướng thu hẹp, làm rõ hoặc chuyển nhóm cho đúng, nhưng không được mở rộng sang hàng hoá, dịch vụ mới. Muốn thêm sản phẩm mới thì phải nộp một đơn khác.
Có nên chép danh mục từ văn bằng của doanh nghiệp cùng ngành không?
Tham khảo cách diễn đạt thì được, nhưng chép nguyên thường kéo theo những mục không liên quan tới bạn và bỏ sót những mục bạn cần. Danh mục nên được viết lại từ chính danh sách sản phẩm, dịch vụ của bạn.
Danh mục có ghi được tên tiếng Anh của sản phẩm không?
Đơn nộp tại Việt Nam dùng tiếng Việt. Tên tiếng Anh của sản phẩm nên được chuyển thành tên gọi thông thường bằng tiếng Việt, mô tả đúng bản chất; tên thương mại không thay được cho mô tả.