Một nhãn hiệu nước ngoài vào Việt Nam thường được người tiêu dùng gọi theo một trong ba cách: đọc tên gốc theo kiểu Việt, dịch nghĩa sang tiếng Việt, hoặc với chữ Hán thì đọc theo âm Hán Việt. Nếu cách gọi đó khác hẳn mẫu nhãn đã đăng ký, chủ nhãn nên cân nhắc đăng ký thêm bản tiếng Việt, vì bảo hộ cho mẫu gốc không phải lúc nào cũng che được bản phiên âm hay bản dịch.
Việt Nam dùng chữ La-tinh nên phần lớn nhãn hiệu tiếng Anh, tiếng Pháp được giữ nguyên tên. Chuyện phiên âm, dịch nghĩa trở nên đáng bàn với nhãn bằng chữ Hán, chữ Nhật, chữ Hàn, chữ Thái, hoặc nhãn tiếng Anh mà người Việt quen gọi bằng một biệt danh. Bài này giải thích cách thẩm định viên nhìn các phiên bản ngôn ngữ, khi nào nên đăng ký riêng, và cách chọn tên tiếng Việt sao cho bảo hộ được. Các tên nhãn trong bài là ví dụ giả định.
Người Việt sẽ gọi nhãn của bạn bằng tên gì
Câu hỏi đầu tiên không phải pháp lý mà là thị trường. Hãy hình dung người bán hàng ở chợ, nhân viên tư vấn ở cửa hàng điện máy, người mua trên sàn thương mại điện tử: họ nói tên sản phẩm của bạn thế nào. Với một nhãn chữ La-tinh dễ đọc, họ đọc gần đúng tên gốc. Với nhãn chữ Hán, họ có thể đọc theo âm Hán Việt, đọc theo âm Quan thoại phiên ra chữ Việt, hoặc gọi theo hình ảnh trên bao bì.
Ví dụ giả định: một hãng đồ gia dụng có nhãn chữ Hán mang nghĩa "rồng vàng". Người Việt đọc theo âm Hán Việt là "Kim Long", một cách gọi tự nhiên và dễ nhớ. Nếu hãng chỉ đăng ký mẫu chữ Hán, rất có thể sẽ có người khác đăng ký "Kim Long" cho đồ gia dụng, và lúc đó tranh chấp về chuyện hai nhãn có tương tự hay không trở nên phức tạp.
Một ví dụ giả định khác: nhãn tiếng Anh "SUNVALE" bán đồ ăn vặt, nhà phân phối quảng bá bằng khẩu hiệu tiếng Việt "Thung Lũng Nắng". Sau vài năm, người mua tìm kiếm bằng chữ tiếng Việt nhiều hơn chữ gốc. Tên tiếng Việt lúc này là tài sản thật, và nó cần có chủ rõ ràng trên giấy.
Thẩm định viên so các phiên bản ngôn ngữ ra sao
Khi so hai nhãn, thẩm định viên xem cả hình thức, cách phát âm và ý nghĩa. Hai nhãn khác hẳn về chữ viết nhưng mang cùng ý nghĩa với người tiêu dùng Việt Nam, như một từ tiếng Anh và bản dịch sát nghĩa sang tiếng Việt của nó, có thể bị coi là tương tự về ý nghĩa. Mức độ tương tự này được đánh giá theo từng trường hợp: từ càng phổ biến, nghĩa càng dễ hiểu với người Việt thì khả năng bị coi là tương tự càng cao.
Với chữ không thuộc hệ La-tinh, thực tiễn thẩm định thường xem phần chữ đó qua cách phát âm và nghĩa do người nộp đơn khai, đồng thời xét nó như một yếu tố hình vì đa số người Việt không đọc được. Vì vậy phần khai phiên âm và nghĩa trong tờ khai không phải chỗ ghi cho có. Khai thiếu hoặc khai sai có thể khiến đơn bị yêu cầu bổ sung, hoặc làm phạm vi bảo hộ bị hiểu khác với ý chủ nhãn.
Điều quan trọng cần nhớ: bảo hộ mẫu gốc có thể giúp chủ nhãn phản đối hoặc tranh luận với một bản dịch do người khác đăng ký, nhưng đó là lập luận, không phải kết quả chắc chắn. Có một văn bằng riêng cho bản tiếng Việt thì chủ nhãn đứng ở thế rõ ràng hơn nhiều khi cần ngăn người khác.
Ba kiểu bản tiếng Việt và điều cần cân nhắc
Không phải nhãn nào cũng cần bản tiếng Việt. Bảng dưới giúp bạn nhận ra kiểu bản tiếng Việt đang hoặc sẽ hình thành, và rủi ro đi kèm từng kiểu.
| Kiểu | Ví dụ giả định | Khi nào nên đăng ký riêng | Cần kiểm tra trước |
|---|---|---|---|
| Phiên âm theo cách đọc | Nhãn gốc chữ Hàn, người Việt đọc thành "Han-ra" | Khi nhà phân phối, quảng cáo dùng cách viết phiên âm này | Cách viết phiên âm có trùng nhãn đã có, có nghĩa xấu khi đọc lên không |
| Âm Hán Việt | Chữ Hán nghĩa "rồng vàng" đọc là "Kim Long" | Gần như luôn nên, vì đây là cách gọi tự nhiên của người Việt | Âm Hán Việt thường là từ thông dụng, dễ đã có người đăng ký |
| Dịch nghĩa | "SUNVALE" thành "Thung Lũng Nắng" | Khi bản dịch được dùng trong quảng bá hoặc trên bao bì | Bản dịch có thành từ mô tả sản phẩm không |
| Tên riêng cho Việt Nam | Một tên tiếng Việt mới không liên quan tên gốc | Luôn phải đăng ký như một nhãn độc lập | Tra cứu như một nhãn mới hoàn toàn |
Âm Hán Việt và bản dịch nghĩa thường rơi vào những từ đẹp, phổ biến, nên khả năng đã có người đăng ký trước trong cùng nhóm là đáng kể. Tra cứu trước trên TraCuuThuongHieu.com hoặc cơ sở dữ liệu của Cục trước khi in bao bì.
Chọn bản tiếng Việt sao cho bảo hộ được
Tránh dịch thành từ mô tả. Một nhãn tiếng Anh có thể có khả năng phân biệt với người Việt vì ít ai hiểu nghĩa, nhưng khi dịch sang tiếng Việt lại thành từ mô tả công dụng hay chất lượng. Ví dụ giả định "PUREDROP" dịch thành "Giọt Tinh Khiết" cho nước uống thì bản dịch gần như mô tả sản phẩm và khó được bảo hộ riêng.
Kiểm tra nghĩa ngoài ý muốn. Một phiên âm có thể vô tình trùng với từ tiếng Việt mang nghĩa xấu, nghĩa lóng, hoặc gần âm với tên một địa danh. Nhờ vài người Việt ở các vùng khác nhau đọc thử bản phiên âm có dấu và không dấu là bước rẻ mà hữu ích.
Thống nhất một cách viết. Chọn một dạng viết, kể cả dấu và cách tách chữ, rồi dùng nhất quán trên bao bì, trang bán hàng, hợp đồng phân phối. Nhiều dạng viết khác nhau làm yếu chứng cứ sử dụng và tạo kẽ hở cho người khác đăng ký một dạng "chưa ai đứng tên".
Tách đơn hay gộp vào một mẫu. Gộp tên gốc và tên tiếng Việt vào một mẫu nhãn thì chỉ bảo hộ chắc cho tổ hợp đó. Nộp đơn riêng cho từng phiên bản cho phép dùng linh hoạt từng phần và mạnh hơn khi xử lý người nhái một phần. Đổi lại là nhiều đơn hơn để quản lý.
Trình tự làm bản tiếng Việt cho nhãn nước ngoài
Làm theo thứ tự này giúp tránh in bao bì xong mới phát hiện tên tiếng Việt đã có chủ.
- Liệt kê các cách người Việt đang hoặc sẽ gọi nhãn: hỏi nhà phân phối, đội bán hàng, xem cách khách viết khi tìm kiếm.
- Chọn một hoặc hai phiên bản quan trọng nhất để bảo hộ, ưu tiên phiên bản xuất hiện trên bao bì và quảng cáo.
- Tra cứu từng phiên bản trong các nhóm hàng hoá, dịch vụ định đăng ký tại Việt Nam.
- Kiểm tra nghĩa, cách đọc, khả năng thành từ mô tả của từng phiên bản.
- Nộp đơn tại Việt Nam qua tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp, đứng tên chính chủ nhãn, khai đúng phần phiên âm và nghĩa.
- Dặn nhà phân phối chỉ dùng đúng các phiên bản đã nộp đơn và không tự tạo cách viết mới.
Nếu chủ nhãn đi đường Madrid, bản tiếng Việt thường phải nộp thành đơn quốc gia riêng, vì đăng ký quốc tế buộc mẫu nhãn giống đăng ký gốc ở nước xuất xứ.
Khi bản tiếng Việt đã bị người khác đăng ký
Trường hợp hay gặp là chủ nhãn nước ngoài phát hiện một doanh nghiệp trong nước đã nộp đơn cho đúng âm Hán Việt hay bản dịch nghĩa của nhãn mình. Hướng xử lý phụ thuộc thời điểm và hoàn cảnh: đơn còn đang thẩm định thì có thể gửi ý kiến phản đối; đã cấp văn bằng thì cân nhắc yêu cầu huỷ nếu có căn cứ, ví dụ người nộp đơn từng là đại lý, nhà phân phối của chủ nhãn, hoặc có dấu hiệu nộp đơn không trung thực.
Chủ nhãn cần chứng minh mối liên hệ giữa bản tiếng Việt và nhãn gốc trong nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam: quảng cáo, báo chí, cách người bán gọi tên sản phẩm từ trước ngày nộp đơn của bên kia. Chứng cứ này khó gom nếu trước đó không ai lưu lại. Đây là lý do nên đăng ký sớm bản tiếng Việt, hoặc ít nhất lưu giữ có hệ thống tài liệu quảng bá có ngày tháng.
Một bài khác trong danh mục này đi sâu vào trường hợp nhãn nước ngoài bị đăng ký trước tại Việt Nam nói chung. Ở đây chỉ nhấn mạnh: với bản tiếng Việt, phòng ngừa rẻ hơn xử lý rất nhiều.
Tên tiếng Việt trên bao bì, nhãn phụ và quảng cáo
Cần tách bạch hai chuyện hay bị lẫn: nhãn hiệu và nhãn hàng hoá. Hàng nhập khẩu bán tại Việt Nam thường phải có nhãn phụ bằng tiếng Việt với các nội dung bắt buộc như tên hàng, thành phần, xuất xứ, tổ chức chịu trách nhiệm. Yêu cầu đó thuộc quy định về ghi nhãn hàng hoá, không buộc chủ nhãn phải dịch hay phiên âm nhãn hiệu. Nhãn hiệu có thể giữ nguyên dạng gốc trên nhãn phụ.
Tuy vậy, chính nhãn phụ và tài liệu quảng cáo lại là nơi tên tiếng Việt tự phát hay xuất hiện. Nhà nhập khẩu ghi tên hàng kèm một cách gọi tiếng Việt cho dễ bán, đội nội dung đặt một biệt danh cho chiến dịch, người bán trên sàn tự viết tên phiên âm vào tiêu đề sản phẩm. Mỗi cách gọi như vậy, nếu được lặp lại đủ lâu, trở thành một tên mà người tiêu dùng gắn với sản phẩm của bạn.
Cách quản lý đơn giản là có một quy định nội bộ ngắn gửi cho nhà phân phối và các bên làm nội dung: tên nào được dùng, viết thế nào, tên nào không được tự tạo. Khi một cách gọi mới tỏ ra hiệu quả, đưa nó qua bước tra cứu và nộp đơn trước khi đẩy mạnh quảng bá. Việc này nghe có vẻ hành chính, nhưng nó chặn được tình huống người khác thấy tên hay và đi nộp đơn trước bạn.
Câu hỏi thường gặp
Đã đăng ký nhãn chữ Hán thì có cần đăng ký thêm âm Hán Việt không?
Nên cân nhắc nghiêm túc. Người Việt thường gọi nhãn chữ Hán bằng âm Hán Việt, và một văn bằng riêng cho cách gọi đó giúp chủ nhãn ở thế rõ ràng hơn khi có người khác đăng ký tên tương tự cho cùng loại hàng.
Bản dịch nghĩa tiếng Việt có bị coi là tương tự nhãn gốc tiếng Anh không?
Có thể, khi nghĩa của từ tiếng Anh phổ biến với người Việt và bản dịch sát nghĩa. Mức độ được đánh giá theo từng trường hợp, nên không thể dựa hoàn toàn vào nhãn gốc để ngăn mọi bản dịch.
Tờ khai có bắt buộc ghi phiên âm và nghĩa của nhãn chữ nước ngoài không?
Tờ khai có phần để khai cách phát âm và nghĩa của phần chữ nước ngoài. Với chữ không thuộc hệ La-tinh, phần này gần như cần thiết để thẩm định viên so sánh. Khai đúng giúp tránh bị yêu cầu bổ sung.
Có thể đăng ký tên tiếng Việt trong cùng đơn với tên gốc không?
Có thể gộp vào một mẫu nhãn, nhưng khi đó bảo hộ chắc chắn chủ yếu cho tổ hợp đó. Muốn dùng tên tiếng Việt độc lập trên bao bì hay quảng cáo, nộp đơn riêng thường an toàn hơn.
Nhà phân phối tự đặt tên tiếng Việt cho sản phẩm thì ai sở hữu tên đó?
Ai nộp đơn và được cấp văn bằng thì là chủ sở hữu trên giấy. Hợp đồng phân phối nên quy định rõ mọi tên, bản dịch phát sinh trong quá trình kinh doanh thuộc về chủ nhãn và do chủ nhãn đứng tên đăng ký.
Nhãn tiếng Anh dễ đọc có cần bản phiên âm không?
Thường không cần. Phiên âm chỉ đáng đăng ký khi người Việt thật sự viết tên theo cách khác với tên gốc, ví dụ viết theo cách đọc, và cách viết đó xuất hiện trên quảng cáo hay trong tìm kiếm.