Một hãng nước ngoài đặt nhà máy Việt Nam sản xuất hàng mang nhãn của mình để xuất khẩu hoàn toàn vẫn nên cân nhắc đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam. Lý do: việc gắn nhãn lên hàng hoá thường được coi là một hành vi sử dụng nhãn hiệu, nên nếu tại Việt Nam đã có người khác đứng tên nhãn đó, hoạt động sản xuất có thể bị cáo buộc xâm phạm dù không bán một chiếc nào ở đây. Ngoài ra, văn bằng tại Việt Nam giúp hãng kiểm soát hàng sản xuất dư bị bán ra ngoài.
Việt Nam là điểm gia công lớn cho dệt may, giày dép, đồ gỗ, điện tử, mỹ phẩm. Phần lớn hãng đặt hàng chỉ nghĩ tới nhãn hiệu ở thị trường bán, không nghĩ tới nơi sản xuất. Bài này giải thích rủi ro ở cả hai phía: hãng nước ngoài và nhà máy gia công Việt Nam, và những việc nên làm trước khi ký hợp đồng. Các tên nhãn trong bài là ví dụ giả định.
Gắn nhãn tại Việt Nam có phải là "sử dụng" nhãn hiệu không
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam mô tả sử dụng nhãn hiệu gồm nhiều hành vi: gắn nhãn lên hàng hoá, bao bì, phương tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch; lưu thông, chào bán, quảng cáo, tàng trữ để bán hàng mang nhãn; nhập khẩu hàng mang nhãn. Theo cách hiểu phổ biến, hành vi gắn nhãn diễn ra tại Việt Nam đã nằm trong phạm vi đó, bất kể hàng sau đó đi đâu.
Hệ quả là nếu một người khác đã được cấp văn bằng tại Việt Nam cho nhãn trùng hoặc tương tự, dùng cho hàng hoá trùng hoặc tương tự, thì việc nhà máy gắn nhãn của hãng nước ngoài lên sản phẩm có nguy cơ bị coi là xâm phạm quyền của người đứng tên tại Việt Nam. Hàng xuất khẩu cũng có thể bị cơ quan hải quan tạm dừng làm thủ tục nếu chủ văn bằng đã đề nghị kiểm tra, giám sát.
Mức độ rủi ro trong từng vụ việc phụ thuộc vào nhiều yếu tố và cách đánh giá của cơ quan có thẩm quyền. Bài này không khẳng định mọi trường hợp gia công xuất khẩu đều bị coi là xâm phạm, chỉ nêu rằng rủi ro là có thật và đáng tính tới trước khi đặt hàng.
Rủi ro nhìn từ hai phía
Bảng dưới gom các rủi ro thường gặp khi hãng nước ngoài chưa có văn bằng tại Việt Nam, hoặc khi nhãn đã có chủ khác ở Việt Nam.
| Rủi ro | Với hãng nước ngoài | Với nhà máy gia công Việt Nam |
|---|---|---|
| Nhãn đã có người đứng tên tại Việt Nam | Lô hàng có thể bị tạm dừng, phải đàm phán hoặc chứng minh quyền | Có thể bị coi là bên trực tiếp gắn nhãn, chịu xử lý cùng |
| Hàng sản xuất dư bị bán ra thị trường | Khó yêu cầu xử lý tại Việt Nam nếu chưa có văn bằng | Bị hãng chấm dứt hợp đồng, đòi bồi thường theo hợp đồng |
| Khuôn mẫu, bao bì in sẵn bị dùng cho bên thứ ba | Hàng nhái gần như giống hệt xuất hiện ở thị trường khác | Mất uy tín, tranh chấp hợp đồng |
| Thiếu giấy tờ chứng minh quyền khi in bao bì | Chậm tiến độ vì đơn vị in yêu cầu giấy tờ | Đơn vị in từ chối nhận in nhãn không có giấy tờ |
Phần lớn các rủi ro này giảm hẳn khi hãng nước ngoài có văn bằng tại Việt Nam và cung cấp bản sao cho nhà máy, kèm văn bản cho phép sản xuất hàng mang nhãn.
Hãng nước ngoài nên làm gì trước khi đặt gia công
Tra cứu tại Việt Nam. Trước khi chọn Việt Nam làm nơi sản xuất cho một dòng sản phẩm, tra cứu xem nhãn đã có người đứng tên ở đây chưa, trong nhóm hàng tương ứng. Việc này có thể làm trên TraCuuThuongHieu.com hoặc cơ sở dữ liệu của Cục, và người đại diện có thể đánh giá kỹ hơn.
Nộp đơn cho nhóm hàng sản xuất. Dù không định bán ở Việt Nam, đăng ký cho đúng nhóm hàng được sản xuất giúp hãng có quyền rõ ràng tại nơi gắn nhãn. Chủ nhãn nước ngoài nộp qua tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp tại Việt Nam.
Lưu ý yêu cầu sử dụng. Hàng chỉ sản xuất để xuất khẩu, không bán tại Việt Nam, có được tính là sử dụng nhãn để chống yêu cầu chấm dứt do không sử dụng hay không là câu hỏi cần đánh giá theo từng trường hợp. Hãng nên lưu hồ sơ sản xuất, đóng gói, xuất khẩu như chứng cứ, và hỏi người làm nghề về cách hiểu hiện hành.
Cung cấp giấy tờ cho nhà máy. Văn bản cho phép nhà máy sản xuất hàng mang nhãn, kèm bản sao văn bằng hoặc đơn, giúp nhà máy làm việc với đơn vị in bao bì và cơ quan hải quan thuận lợi hơn.
Điều khoản nhãn hiệu trong hợp đồng gia công
Những nội dung dưới đây nên có trong hợp đồng gia công có liên quan đến nhãn hiệu. Đây là danh sách nội dung cần bàn, không phải mẫu hợp đồng.
- Hãng cam kết có quyền đối với nhãn và chịu trách nhiệm nếu bên thứ ba khiếu nại về nhãn; nhà máy được bồi hoàn chi phí phát sinh từ khiếu nại đó.
- Nhà máy chỉ được gắn nhãn cho số lượng theo đơn đặt hàng; mọi hàng lỗi, hàng dư phải huỷ nhãn hoặc trả lại theo quy trình có biên bản.
- Khuôn mẫu, bản in, bao bì in sẵn thuộc sở hữu của hãng, phải được quản lý riêng và trả lại hoặc huỷ khi kết thúc hợp đồng.
- Nhà máy không được nộp đơn nhãn hiệu, tên miền, tên doanh nghiệp chứa nhãn hoặc biến thể của nhãn.
- Quy trình phối hợp khi cơ quan hải quan hoặc cơ quan quản lý yêu cầu chứng minh quyền đối với nhãn.
- Quyền kiểm tra của hãng đối với việc quản lý nhãn, bao bì tại nhà máy.
Nhà máy gia công nên coi điều khoản bồi hoàn là quyền lợi chính của mình: nếu hãng không có quyền rõ ràng đối với nhãn tại Việt Nam, người bị xử lý trước tiên thường là bên trực tiếp gắn nhãn tại xưởng.
Nhà máy gia công nên kiểm tra những gì
Nhà máy Việt Nam nhận đơn hàng từ một khách nước ngoài mới, đặc biệt qua trung gian, nên đề nghị khách cung cấp bằng chứng có quyền đối với nhãn: văn bằng tại Việt Nam nếu có, văn bằng ở nước đặt hàng, hoặc văn bản cho phép của chủ nhãn nếu khách chỉ là bên trung gian. Đây là cách tự bảo vệ, không phải sự nghi ngờ khách hàng.
Một tình huống hay gặp là khách đặt hàng mang nhãn của một hãng nổi tiếng mà không có giấy tờ, giải thích rằng "hàng làm cho hãng" hoặc "hàng xuất đi nước khác, không bán ở đây". Nhận đơn kiểu này đặt nhà máy vào nguy cơ sản xuất hàng giả mạo nhãn hiệu, có thể bị xử lý hành chính, thậm chí hình sự khi quy mô lớn. Nhà máy nên từ chối khi không xác minh được quyền.
Nhà máy cũng nên tra nhanh xem nhãn khách yêu cầu có đang đứng tên người khác tại Việt Nam không. Nếu có, hãy hỏi khách về quan hệ với người đứng tên đó trước khi sản xuất. Một cuộc kiểm tra đơn giản trước khi nhận đơn rẻ hơn rất nhiều so với một lô hàng bị tạm dừng ở cảng.
Phát hiện nhãn đã có chủ tại Việt Nam khi đang sản xuất
Đôi khi hãng chỉ phát hiện vấn đề khi đơn hàng đã chạy: nhà máy báo đơn vị in từ chối in bao bì vì nhãn đã có người khác đứng tên, hoặc một lô hàng bị hải quan tạm dừng. Lúc này, việc đầu tiên là có bức tranh đầy đủ về văn bằng của bên kia: danh mục, ngày cấp, chủ sở hữu là ai, có quan hệ gì với hãng hoặc với nhà máy không.
Hướng xử lý tương tự tình huống nhãn nước ngoài bị chiếm đăng ký nói chung: thương lượng với chủ văn bằng, yêu cầu huỷ nếu có căn cứ như nộp đơn không trung thực hay người nộp đơn từng là đại lý, yêu cầu chấm dứt nếu bên kia không sử dụng. Song song, hãng có thể cân nhắc chuyển một phần sản xuất sang nơi khác trong thời gian giải quyết, để không làm gián đoạn đơn hàng với khách mua ở nước ngoài.
Với nhà máy gia công, cần thông báo ngay cho hãng bằng văn bản và tạm dừng gắn nhãn cho tới khi có hướng xử lý rõ ràng. Tiếp tục sản xuất khi đã biết có tranh chấp làm tăng rủi ro cho chính nhà máy. Hợp đồng gia công nên quy định trước ai chịu chi phí phát sinh trong tình huống này, để hai bên không phải tranh cãi khi hàng đã nằm ở kho.
Hàng sản xuất dư: lý do thực tế để có văn bằng tại Việt Nam
Trong gia công, sản xuất dư là chuyện bình thường để bù hàng lỗi. Vấn đề phát sinh khi số dư không được huỷ nhãn mà bị bán ra chợ, sàn thương mại điện tử trong nước hoặc xuất sang nước thứ ba. Người mua có thể tin đó là hàng chính hãng, và chất lượng không được kiểm soát như hàng qua kênh chính thức.
Nếu hãng có văn bằng tại Việt Nam, hãng có cơ sở yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý việc lưu thông hàng không được phép mang nhãn trên thị trường Việt Nam. Nếu không có văn bằng, hãng chủ yếu chỉ còn công cụ hợp đồng với nhà máy, và khó tác động tới người bán trung gian.
Văn bằng tại Việt Nam vì vậy không chỉ để bán hàng ở Việt Nam. Với hãng có chuỗi sản xuất lớn tại đây, nó là một phần của việc quản lý chuỗi cung ứng, bên cạnh mã lô, kiểm kê bao bì và kiểm tra định kỳ tại xưởng.
Với nhà máy gia công, một hãng có văn bằng tại Việt Nam cũng là khách hàng an toàn hơn: giấy tờ rõ ràng giúp nhà máy làm việc với đơn vị in, hải quan và cơ quan quản lý mà không phải giải trình nhiều lần cho mỗi lô hàng.
Câu hỏi thường gặp
Hàng gia công chỉ để xuất khẩu có cần nhãn hiệu đăng ký tại Việt Nam không?
Luật không bắt buộc, nhưng nên cân nhắc. Gắn nhãn lên hàng hoá tại Việt Nam thường được coi là hành vi sử dụng nhãn, nên nếu người khác đã đứng tên nhãn đó tại Việt Nam, hoạt động sản xuất có nguy cơ bị cáo buộc xâm phạm.
Nhà máy gia công có chịu trách nhiệm nếu nhãn của khách xâm phạm quyền người khác không?
Nhà máy là bên trực tiếp gắn nhãn nên có thể bị liên đới xử lý. Vì vậy nhà máy nên yêu cầu khách chứng minh quyền đối với nhãn và có điều khoản bồi hoàn trong hợp đồng.
Đơn vị in bao bì có yêu cầu giấy tờ nhãn hiệu không?
Nhiều đơn vị in thường yêu cầu bằng chứng quyền đối với nhãn hoặc văn bản cho phép trước khi in bao bì có nhãn. Chuẩn bị sẵn bản sao văn bằng và văn bản cho phép giúp tránh chậm tiến độ.
Sản xuất hàng xuất khẩu có được tính là sử dụng nhãn tại Việt Nam để giữ văn bằng không?
Đây là câu hỏi cần đánh giá theo từng trường hợp và theo cách hiểu hiện hành. Hãng nên lưu hồ sơ sản xuất, đóng gói, xuất khẩu làm chứng cứ và hỏi người làm nghề trước khi dựa hoàn toàn vào nó.
Hàng dư của nhà máy gia công bán ra chợ có phải hàng giả không?
Hàng đó có thể giống hệt hàng chính thức nhưng không được chủ nhãn cho phép đưa ra thị trường. Việc lưu thông hàng không được phép mang nhãn có thể bị xử lý nếu chủ nhãn có văn bằng tại Việt Nam.