Chủ nhãn nước ngoài có thể đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam trước khi bán bất kỳ sản phẩm nào ở đây, vì luật không đòi chứng minh đã sử dụng khi nộp đơn. Nhưng sau khi có văn bằng, nếu nhãn không được sử dụng liên tục trong năm năm mà không có lý do chính đáng, bất kỳ ai cũng có thể yêu cầu chấm dứt hiệu lực. Giữ quyền tại Việt Nam vì vậy là hai việc nối tiếp: nộp đơn sớm, rồi có kế hoạch sử dụng và lưu chứng cứ.
Bài này dành cho doanh nghiệp nước ngoài đang tính chuyện vào Việt Nam trong vài năm tới, hoặc đã có văn bằng nhưng việc ra mắt bị lùi. Bài không bàn chiến lược kinh doanh, chỉ bàn những quyết định pháp lý giúp nhãn không bị mất trong khoảng thời gian chờ.
Vì sao nên nộp đơn trước khi có kế hoạch bán hàng cụ thể
Việt Nam theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên: khi hai người cùng nộp đơn cho nhãn trùng hoặc tương tự, dùng cho hàng hoá trùng hoặc tương tự, người có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn thường được xét trước. Việc chủ nhãn nước ngoài đã dùng nhãn nhiều năm ở nước khác không tự động đảo ngược thứ tự đó.
Khoảng thời gian rủi ro nhất là khi thương hiệu bắt đầu được nhắc tới ở Việt Nam mà chưa có đơn: hàng xách tay lan trên mạng xã hội, đối tác tiềm năng được mời đàm phán, hãng tham gia hội chợ khu vực. Những người theo dõi thị trường nhanh nhạy có thể nộp đơn trong khoảng trống đó, và việc lấy lại tốn hơn nhiều so với nộp trước.
Nộp sớm cũng cho phép chủ nhãn phát hiện sớm các nhãn có trước có thể cản trở. Nếu tra cứu hay thẩm định cho thấy tên đã bị người khác đăng ký cho đúng mảng của mình, chủ nhãn còn thời gian chọn tên khác cho thị trường Việt Nam trước khi in bao bì, làm quảng cáo.
Nếu chủ nhãn đã có đơn ở nước nhà trong vòng sáu tháng, đơn nộp vào Việt Nam có thể yêu cầu hưởng quyền ưu tiên theo Công ước Paris, tức được tính như nộp vào ngày của đơn đầu tiên. Đây là cách giữ chỗ trong lúc còn cân nhắc, nhưng cửa sổ thời gian ngắn, nên quyết định về Việt Nam cần đưa vào ngay lúc nộp đơn gốc chứ không đợi tới khi có kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh.
Soạn danh mục cho một thị trường chưa vào
Bám vào kế hoạch thật. Danh mục nên phản ánh những gì chủ nhãn thật sự định bán ở Việt Nam trong vài năm tới, không phải toàn bộ danh mục toàn cầu. Hàng hoá đăng ký mà không bao giờ dùng là phần dễ bị yêu cầu chấm dứt sau này, và có thể làm phức tạp thẩm định.
Ưu tiên sản phẩm chủ lực trước. Nếu ngân sách có hạn, nộp trước cho sản phẩm chủ lực và dịch vụ cốt lõi. Các mảng mở rộng có thể nộp đơn bổ sung khi kế hoạch rõ hơn.
Tính tới kênh bán. Nếu dự định bán trực tuyến, mở cửa hàng hay cung cấp dịch vụ kèm theo, các dịch vụ đó cần được cân nhắc đưa vào danh mục bên cạnh hàng hoá.
Nhớ tới bao bì và dịch vụ đi kèm. Một số sản phẩm vào Việt Nam kèm dịch vụ lắp đặt, bảo trì, đào tạo hay ứng dụng di động. Nếu những thứ đó sẽ mang cùng nhãn, chủ nhãn nên tính trước có đưa các dịch vụ tương ứng vào đơn hay không, thay vì chỉ đăng ký cho hàng hoá rồi phát hiện khoảng trống khi đối thủ dùng tên tương tự cho dịch vụ.
Không mở rộng danh mục sau khi nộp. Sau khi nộp, danh mục chỉ có thể thu hẹp hoặc làm rõ trong phạm vi ban đầu, không thêm sản phẩm mới. Muốn thêm phải nộp đơn mới với ngày nộp đơn mới.
Năm năm không sử dụng: rủi ro tính thế nào
Luật cho phép bất kỳ ai yêu cầu chấm dứt hiệu lực văn bằng nhãn hiệu nếu nhãn không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu, mà không có lý do chính đáng. Luật cũng có quy định để ngăn việc chủ nhãn chỉ vội bắt đầu dùng ngay trước khi bị yêu cầu: việc bắt đầu hoặc bắt đầu lại sử dụng phải diễn ra trước ngày có yêu cầu một khoảng thời gian nhất định mới được tính.
Với chủ nhãn nước ngoài, năm năm nghe có vẻ dài, nhưng kế hoạch vào thị trường thường bị lùi vì giấy phép chuyên ngành, tìm đối tác, biến động kinh tế. Nhiều chủ nhãn chỉ nhận ra rủi ro khi một doanh nghiệp khác muốn dùng tên đó, và yêu cầu chấm dứt văn bằng của họ để mở đường cho đơn của mình.
"Lý do chính đáng" có thể bao gồm những trở ngại khách quan nằm ngoài ý muốn của chủ nhãn, như hàng hoá đang chờ cơ quan quản lý cấp phép lưu hành. Mức độ chấp nhận tuỳ từng trường hợp; chủ nhãn nên lưu đầy đủ hồ sơ chứng minh trở ngại đó, thay vì chỉ nói chung là "chưa vào thị trường".
Những gì được và không được tính là sử dụng
Khái niệm sử dụng nhãn hiệu trong luật Việt Nam bao gồm nhiều hành vi. Bảng dưới giúp chủ nhãn hình dung loại chứng cứ nào có giá trị; đánh giá cuối cùng tuỳ vụ việc cụ thể.
| Hoạt động | Thường có giá trị chứng minh | Ghi chú |
|---|---|---|
| Nhập khẩu và bán hàng mang nhãn tại Việt Nam | Có | Hoá đơn, tờ khai, hợp đồng với nhà phân phối nên lưu có hệ thống |
| Người được li-xăng sử dụng tại Việt Nam | Có, nếu được chủ nhãn cho phép | Hợp đồng li-xăng nên lập văn bản rõ ràng |
| Quảng cáo nhắm tới người tiêu dùng Việt Nam | Có thể, kèm hoạt động bán hoặc chào hàng thật | Quảng cáo đơn lẻ, không có hàng, có giá trị thấp |
| Bán qua trang mạng toàn cầu mà không giao hàng tới Việt Nam | Thấp | Nên có giao dịch thực tế tới người mua tại Việt Nam |
| Bán một lô rất nhỏ chỉ để giữ văn bằng | Không chắc | Sử dụng mang tính hình thức có thể bị đánh giá là không thật |
| Dùng nhãn khác đáng kể so với mẫu đã đăng ký | Không chắc | Nên dùng đúng mẫu đã đăng ký hoặc nộp đơn mới cho mẫu mới |
Chứng cứ phải có ngày tháng và gắn với nhãn đã đăng ký. Lưu theo năm, theo sản phẩm sẽ giúp chủ nhãn trả lời nhanh khi bị yêu cầu chấm dứt.
Theo dõi thị trường trong lúc chờ
Có văn bằng không có nghĩa là có thể quên nhãn ở Việt Nam. Trong thời gian chưa vào thị trường, chủ nhãn vẫn nên theo dõi các đơn mới được công bố có dấu hiệu tương tự nhãn của mình. Phát hiện ở giai đoạn công bố cho phép gửi ý kiến phản đối, nhanh và ít tốn kém hơn nhiều so với yêu cầu huỷ văn bằng sau khi đã cấp.
Cũng nên để ý tới các tên doanh nghiệp, tên miền, tài khoản mạng xã hội mang nhãn của mình tại Việt Nam. Những thứ này không phải nhãn hiệu, nhưng thường là bước đầu của một người định khai thác danh tiếng của nhãn. Một tài khoản bán hàng mang tên nhãn của bạn khi bạn chưa có mặt ở Việt Nam là tín hiệu nên kiểm tra kỹ.
Việc theo dõi có thể giao cho tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp đang giữ hồ sơ, hoặc làm định kỳ qua cơ sở dữ liệu của Cục. Điều quan trọng là có người chịu trách nhiệm và có lịch cố định, không phải chỉ kiểm tra khi có chuyện.
Khi kế hoạch thay đổi
Kế hoạch vào Việt Nam có thể thay đổi theo nhiều hướng. Nếu chủ nhãn đổi tên thương hiệu cho thị trường châu Á, văn bằng cũ có thể không còn giá trị kinh doanh; nên nộp đơn cho tên mới sớm, và cân nhắc có giữ văn bằng cũ hay không dựa trên việc nó còn giúp ngăn người khác dùng tên cũ hay không.
Nếu chủ nhãn quyết định vào Việt Nam qua một công ty con hoặc liên doanh, cần tính xem ai đứng tên nhãn và ai được phép sử dụng. Việc công ty con sử dụng nhãn của công ty mẹ nên có văn bản cho phép rõ ràng, để chứng cứ sử dụng của công ty con được tính cho chủ nhãn khi cần chống yêu cầu chấm dứt. Thủ tục chuyển nhượng hay li-xăng tại Cục có bài riêng trong trang này.
Nếu chủ nhãn quyết định không vào Việt Nam nữa, nên cân nhắc thẳng thắn có duy trì văn bằng hay không. Giữ một văn bằng không dùng chỉ kéo dài rủi ro bị yêu cầu chấm dứt, trong khi nhãn có thể có giá trị chuyển nhượng cho một doanh nghiệp khác có nhu cầu thật. Dù chọn hướng nào, hãy ghi lại quyết định và lý do trong hồ sơ để người kế nhiệm hiểu.
Kế hoạch năm năm cho chủ nhãn chưa vào thị trường
Một khung kế hoạch đơn giản để giữ quyền mà không lãng phí:
- Nộp đơn cho nhãn chính và các biến thể quan trọng (bản tiếng Việt nếu có) ngay khi Việt Nam vào danh sách thị trường tiềm năng.
- Lưu ngày cấp văn bằng vào hệ thống theo dõi và tính trước mốc ba năm, bốn năm để rà soát.
- Đến mốc rà soát, kiểm tra kế hoạch vào thị trường: đã có đối tác chưa, giấy phép chuyên ngành đến đâu.
- Nếu kế hoạch bị lùi vì trở ngại khách quan, lưu hồ sơ chứng minh trở ngại.
- Khi bắt đầu bán, dùng đúng mẫu nhãn đã đăng ký và lưu chứng cứ sử dụng ngay từ lô đầu tiên.
- Với các phần danh mục rõ ràng không dùng tới, cân nhắc chấp nhận rủi ro hoặc nộp đơn mới phù hợp hơn khi cần.
Kế hoạch này không nhằm giữ nhãn mà không bao giờ dùng. Luật đặt yêu cầu sử dụng chính là để nhãn không bị giữ chết, và người khác có quyền dùng tên nếu chủ nhãn thật sự không có ý định kinh doanh.
Câu hỏi thường gặp
Có cần chứng minh đã dùng nhãn tại Việt Nam khi nộp đơn không?
Không. Việt Nam không yêu cầu chứng minh sử dụng khi nộp đơn hay khi cấp văn bằng. Yêu cầu sử dụng chỉ phát sinh sau khi có văn bằng, khi người khác yêu cầu chấm dứt hiệu lực do không sử dụng.
Văn bằng có tự mất hiệu lực sau năm năm không dùng không?
Không tự mất. Hiệu lực chỉ bị chấm dứt khi có người yêu cầu và cơ quan có thẩm quyền xét thấy nhãn không được sử dụng liên tục trong năm năm mà không có lý do chính đáng.
Chờ giấy phép lưu hành sản phẩm có được coi là lý do chính đáng không?
Có thể được xem xét nếu chủ nhãn chứng minh đã nộp hồ sơ và đang chờ cơ quan quản lý, tức trở ngại nằm ngoài ý muốn. Mức độ chấp nhận tuỳ từng vụ việc, nên lưu đầy đủ hồ sơ.
Bán vài sản phẩm mỗi năm để giữ nhãn có đủ không?
Không chắc. Sử dụng mang tính hình thức chỉ để giữ văn bằng có thể bị đánh giá là không thật. Hoạt động kinh doanh thực tế, dù quy mô nhỏ, có giá trị cao hơn nhiều so với các giao dịch dàn dựng.
Nên nộp đơn tại Việt Nam trước hay sau khi tìm được nhà phân phối?
Nên nộp trước, hoặc ít nhất trước khi gửi thông tin chi tiết cho đối tác tiềm năng. Nộp sau khi đã đàm phán mở ra khoảng trống mà người khác có thể lợi dụng.