NhanHieuVietNam.comNhãn Hiệu Việt Nam
Dấu hiệu nào được bảo hộ

Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu: hai điều kiện luật đặt ra và cách tự chấm trước khi nộp

Nhãn hiệu được bảo hộ khi là dấu hiệu nhìn thấy được và có khả năng phân biệt. Bài giải thích từng điều kiện và năm câu hỏi tự chấm trước khi nộp đơn.

Small business owner in Da Nang seen from behind at a wooden workshop table, comparing three blank paper sketches of abstract shapes under morning window light, crimson notebook nearby

Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, một nhãn hiệu được bảo hộ khi đáp ứng hai điều kiện: là dấu hiệu nhìn thấy được (chữ, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc kết hợp, một hay nhiều màu; từ lần sửa luật năm 2022 có thêm dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ hoạ), và có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ nhãn với của người khác. Ngoài hai điều kiện đó, dấu hiệu còn không được rơi vào nhóm bị luật cấm và không được đụng quyền đã có của người khác.

Nghe thì gọn, nhưng phần lớn đơn bị từ chối hỏng chính ở điều kiện thứ hai. Bài này giải thích từng điều kiện bằng ngôn ngữ người làm hồ sơ, chỉ ra những nhóm dấu hiệu luật coi là yếu hoặc không được bảo hộ, và đưa ra một quy trình năm câu hỏi để bạn tự chấm cái tên, cái logo của mình trước khi bỏ công làm đơn. Các ví dụ nhãn trong bài đều là tên giả định.

Hai điều kiện luật đặt ra cho một nhãn hiệu

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, qua các lần sửa đổi năm 2009, 2019 và 2022, giữ khung điều kiện chung cho nhãn hiệu (khi làm hồ sơ, nên đối chiếu bản hợp nhất mới nhất vì luật còn có thể được sửa tiếp): dấu hiệu phải nhìn thấy được (hoặc là âm thanh biểu diễn được bằng đồ hoạ) và phải có khả năng phân biệt. Văn bằng không cấp cho ý tưởng, cho phong cách kinh doanh hay cho một cái tên chung chung của cả ngành, mà cấp cho một dấu hiệu cụ thể, gắn với một danh mục hàng hoá, dịch vụ cụ thể.

Điều kiện thứ nhất gần như ai cũng đạt, vì cái tên viết ra giấy hay một hình vẽ đều là dấu hiệu nhìn thấy được. Điều kiện thứ hai mới là chỗ thẩm định viên dừng lại lâu: dấu hiệu đó, khi người mua bắt gặp trên bao bì, biển hiệu hay trang bán hàng, có giúp họ nhận ra hàng này của ai hay không. Một cái tên chỉ nói hàng là gì, tốt ra sao, làm ở đâu thì không trả lời được câu hỏi "của ai", nên luật coi là không có khả năng phân biệt.

Cần nhớ thêm: hai điều kiện này là điều kiện tự thân của dấu hiệu. Khi thẩm định nội dung, Cục Sở hữu trí tuệ còn đối chiếu dấu hiệu với các đơn và văn bằng có trước, với nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả của người khác. Một dấu hiệu tự nó rất tốt vẫn có thể bị từ chối vì đã có người đi trước. Vì vậy người làm nghề thường tách làm hai bước: tự chấm khả năng phân biệt trước, rồi mới tra cứu trùng lặp, chẳng hạn tra trước trên TraCuuThuongHieu.com hoặc cơ sở dữ liệu của Cục.

"Nhìn thấy được" nghĩa là gì và vì sao luật mở thêm âm thanh

Dấu hiệu nhìn thấy được bao gồm chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều, hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Trong thực tế hồ sơ, điều kiện này được kiểm qua mẫu nhãn: bạn phải nộp được một hình ảnh cố định, rõ nét của dấu hiệu, để người khác nhìn vào biết chính xác phạm vi được bảo hộ là gì.

Lần sửa luật năm 2022 bổ sung dấu hiệu âm thanh, với điều kiện thể hiện được dưới dạng đồ hoạ, ví dụ bằng khuông nhạc. Ý nghĩa của điểm này là cho thấy tinh thần của điều kiện thứ nhất: thứ được bảo hộ phải xác định được, ghi lại được, so sánh được. Mùi hương, vị, cảm giác chạm hiện chưa nằm trong khung đó.

Với doanh nghiệp nhỏ, điều kiện thứ nhất thường chỉ gây rắc rối ở khâu mẫu nhãn: nộp ảnh chụp bao bì mờ, nộp nhiều phiên bản logo khác nhau trong cùng một đơn, hoặc mô tả bằng lời một thứ mà mẫu nhãn không thể hiện. Những lỗi đó thuộc phần tờ khai và mẫu nhãn, được bàn ở chuyên mục riêng của trang; ở đây chỉ cần nhớ rằng dấu hiệu phải chốt được thành một hình cố định trước khi bàn tới khả năng phân biệt.

Khả năng phân biệt: một thang đo từ mạnh đến yếu

Người làm nghề hay hình dung khả năng phân biệt như một thang. Càng lên cao, dấu hiệu càng dễ được bảo hộ và phạm vi bảo hộ càng rộng; càng xuống thấp, dấu hiệu càng cần thêm yếu tố khác hoặc cần chứng minh đã được biết đến qua sử dụng.

MứcBản chất dấu hiệuVí dụ giả định (sản phẩm: nước mắm)Khả năng được bảo hộ
Tự đặtTừ không có nghĩa, do chủ nhãn nghĩ raVAMORICao, phạm vi bảo hộ rộng
Tuỳ ýTừ có nghĩa nhưng không liên quan tới sản phẩmCÁNH DIỀUCao
Gợi ýGợi liên tưởng gián tiếp, người mua phải nghĩ thêm một bướcBIỂN SÂUThường được chấp nhận, tuỳ ngữ cảnh
Mô tảNói thẳng chất lượng, thành phần, công dụngNGUYÊN CHẤTKhông được bảo hộ riêng
Tên gọi thông thườngTên chung của chính sản phẩmNƯỚC MẮMKhông được bảo hộ

Thang này không có trong luật dưới dạng bảng, nhưng phản ánh đúng cách các quy định về khả năng phân biệt được áp dụng. Ranh giới giữa "gợi ý" và "mô tả" là chỗ tranh cãi nhiều nhất, và cũng là nơi văn bản trả lời từ chối thường phải lập luận.

Những nhóm dấu hiệu luật coi là không có khả năng phân biệt

Luật liệt kê một danh sách dấu hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt. Có thể gom thành các nhóm sau, mỗi nhóm được trang này phân tích kỹ ở một bài riêng:

  • Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc ngôn ngữ không thông dụng, trừ khi đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi như một nhãn hiệu.
  • Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào, đã được dùng rộng rãi, thường xuyên.
  • Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc đặc tính mang tính mô tả, trừ khi đã đạt khả năng phân biệt qua sử dụng trước ngày nộp đơn.
  • Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể, ví dụ những cụm như "công ty cổ phần", "thương mại dịch vụ" đứng một mình.
  • Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ khi đã được dùng và thừa nhận rộng rãi như nhãn hiệu, hoặc đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận.
  • Dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với đối tượng đã được bảo hộ hoặc nộp đơn trước của người khác: nhãn hiệu, nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, tên giống cây trồng, tên và hình tượng nhân vật trong tác phẩm được biết đến rộng rãi.

Nhóm cuối cùng thực ra là câu chuyện "đã có người đi trước", khác về bản chất với các nhóm đầu là "dấu hiệu tự nó yếu". Tách hai loại này ra giúp bạn biết nên sửa dấu hiệu hay nên đổi hướng.

Điều kiện ngầm: không rơi vào nhóm bị cấm và không xâm phạm quyền có trước

Nhóm dấu hiệu bị cấm. Ngoài khả năng phân biệt, luật có một danh sách dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu: trùng hoặc tương tự quốc kỳ, quốc huy, quốc ca; biểu tượng, cờ, tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức quốc tế khi chưa được phép; tên thật, biệt hiệu, hình ảnh lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân; dấu chứng nhận, dấu kiểm tra của tổ chức quốc tế; dấu hiệu gây hiểu sai lệch, lừa dối người tiêu dùng.

Trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Luật Sở hữu trí tuệ có nguyên tắc chung không bảo hộ đối tượng trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh. Một cái tên gây sốc để thu hút chú ý có thể bị từ chối vì lý do này, dù nó rất dễ nhớ.

Quyền nhân thân và quyền tác giả. Dùng tên, hình ảnh của người khác hay một hình vẽ do người khác sáng tác mà không được phép thì dù được cấp văn bằng, văn bằng vẫn có nguy cơ bị huỷ bỏ khi người có quyền lên tiếng. Với logo thuê thiết kế, nên có văn bản chuyển giao quyền đối với hình vẽ.

Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên. Việt Nam cấp văn bằng cho người nộp đơn hợp lệ sớm nhất đối với dấu hiệu trùng hoặc tương tự, dùng cho hàng hoá trùng hoặc tương tự. Dùng trước mà chưa nộp đơn không tự động cho bạn quyền chặn người nộp trước, trừ một số ngoại lệ như nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu đã được sử dụng rộng rãi và thừa nhận từ trước, hoặc đơn nộp không trung thực.

Tự chấm dấu hiệu trước khi nộp: năm câu hỏi

Trước khi nhờ ai làm hồ sơ hay tự nộp trực tuyến, bạn có thể tự đi qua năm câu hỏi dưới đây. Mỗi câu trả lời "có" là một rủi ro cần xử lý.

  1. Đọc to cái tên cho một người lạ nghe kèm tên sản phẩm: người đó có hiểu ngay đây là lời mô tả hàng (tốt, sạch, nhanh, tươi, chuẩn) hay không?
  2. Cái tên có chứa tên tỉnh, tên vùng, tên làng gắn với chính loại hàng bạn bán hay không?
  3. Phần chữ có phải chỉ là một hai chữ cái, một con số, hay một hình tròn, hình vuông đơn giản không có gì đặc biệt?
  4. Dấu hiệu có chứa quốc kỳ, quốc huy, tên cơ quan, tên tổ chức quốc tế, tên hoặc hình ảnh một người cụ thể hay không?
  5. Tra cứu sơ bộ có thấy nhãn trùng hoặc gần giống, cho hàng hoá cùng loại hoặc liên quan, của người khác hay không?

Nếu câu một hoặc câu hai trả lời "có", hướng xử lý thường là thêm một yếu tố tự đặt hoặc tuỳ ý làm phần chính, để phần mô tả lùi xuống vai trò phụ. Nếu câu bốn trả lời "có", nên bỏ yếu tố đó trước khi nộp. Câu năm cần tra kỹ hơn và có thể cần đánh giá của người làm nghề.

Những hiểu lầm khiến đơn hỏng ngay từ khâu chọn tên

"Tên càng nói rõ sản phẩm càng tốt." Đúng cho tiếp thị, sai cho bảo hộ. Tên càng mô tả thì càng khó độc quyền, vì luật không cho một người giữ riêng những từ mà mọi người cùng ngành cần dùng để nói về hàng của mình.

"Đã đăng ký kinh doanh tên này thì nhãn hiệu cũng được." Tên doanh nghiệp được đăng ký theo luật doanh nghiệp, với tiêu chí khác hẳn. Có tên công ty hợp lệ không có nghĩa là phần tên riêng đó đủ khả năng phân biệt làm nhãn hiệu, càng không có nghĩa là không trùng nhãn hiệu của người khác.

"Thêm logo đẹp vào là được bảo hộ cả chữ." Logo có thể giúp cả dấu hiệu đạt khả năng phân biệt, nhưng phần chữ mô tả bên trong thường bị ghi là phần không được bảo hộ riêng. Người khác vẫn dùng được những chữ đó, miễn không bắt chước cả tổng thể.

"Viết sai chính tả cố ý là thoát mô tả." Kiểu viết "NGON" thành "NGONN" hay bỏ dấu thường không cứu được, vì người mua vẫn đọc và hiểu như từ gốc. Thẩm định xét cách người tiêu dùng cảm nhận, không xét chính tả.

Câu hỏi thường gặp

Nhãn hiệu không có khả năng phân biệt thì có dùng được không?

Vẫn dùng được trên bao bì và quảng cáo, miễn không xâm phạm quyền của người khác và không vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hoá, quảng cáo. Điều bạn mất là quyền độc quyền: không ngăn được người khác dùng dấu hiệu tương tự, và khó xử lý khi bị nhái.

Cục Sở hữu trí tuệ xét khả năng phân biệt theo cảm nhận của ai?

Theo cảm nhận của người tiêu dùng có liên quan, tức người thường mua loại hàng hoá, dịch vụ đó tại Việt Nam, không phải theo ý định của chủ nhãn. Cùng một từ có thể mô tả với sản phẩm này nhưng hoàn toàn tuỳ ý với sản phẩm khác.

Nhãn hiệu gồm cả chữ và hình thì xét khả năng phân biệt thế nào?

Thẩm định viên xét tổng thể và xác định đâu là phần chính, phần gây ấn tượng. Nếu phần chữ mô tả nhưng hình đủ đặc sắc, dấu hiệu tổng thể vẫn có thể được bảo hộ, kèm ghi chú phần chữ không được bảo hộ riêng.

Có cần chứng minh đã sử dụng nhãn hiệu mới được nộp đơn không?

Không. Việt Nam cho phép nộp đơn với nhãn hiệu chưa sử dụng. Chứng cứ sử dụng chỉ cần khi bạn muốn chứng minh một dấu hiệu vốn yếu, như dấu hiệu mô tả, đã đạt khả năng phân biệt trước ngày nộp đơn, hoặc khi có tranh chấp.

Đơn đã nộp mà phát hiện tên có yếu tố mô tả thì làm gì?

Có thể chờ ý kiến thẩm định và trả lời, có thể chủ động sửa đơn theo hướng loại bỏ hay ghi chú phần không bảo hộ riêng nếu việc sửa không mở rộng phạm vi, hoặc nộp đơn mới với dấu hiệu đã điều chỉnh. Mỗi cách có cái giá về thời gian khác nhau.

Một chữ thông thường có thể được bảo hộ cho mọi loại hàng không?

Không có văn bằng "cho mọi loại hàng". Văn bằng luôn gắn với danh mục cụ thể, và cùng một chữ có thể là mô tả với nhóm hàng này nhưng là tuỳ ý với nhóm hàng khác, nên khả năng phân biệt cũng xét riêng cho từng nhóm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.