Đối chứng là những nhãn hiệu hoặc quyền khác có trước mà thẩm định viên dùng để so sánh với nhãn trong đơn của bạn; nếu nhãn của bạn trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với một đối chứng cho sản phẩm trùng hoặc tương tự, đơn có thể bị từ chối ở phần đó. Đối chứng không chỉ gồm nhãn đã có văn bằng.
Người tự tra cứu trước khi nộp thường chỉ xem các nhãn đã được cấp, rồi ngạc nhiên khi đối chứng trong thông báo là một đơn đang chờ, một nhãn quốc tế, hay thậm chí một tên doanh nghiệp. Bài này liệt kê các nhóm quyền có trước mà luật cho phép dùng làm căn cứ, kèm ý nghĩa thực tế của từng nhóm, để bạn hiểu vì sao đơn bị chặn và biết hướng nào còn có thể lập luận.
Các nhóm đối chứng thường gặp
Bảng dưới gom các nhóm quyền có trước mà thẩm định viên có thể dùng. Điều kiện chi tiết của từng nhóm, chẳng hạn thời gian sau khi văn bằng hết hiệu lực vẫn được dùng làm đối chứng, bạn đối chiếu văn bản hiện hành.
| Nhóm đối chứng | Điều kiện để được dùng | Ghi chú thực tế |
|---|---|---|
| Đơn nhãn hiệu nộp trước | Có ngày nộp hoặc ngày ưu tiên sớm hơn, cuối cùng được cấp văn bằng | Nếu đơn đó chưa có kết quả, đơn của bạn có thể phải chờ |
| Nhãn hiệu đang được bảo hộ | Văn bằng còn hiệu lực tại Việt Nam | Nhóm đối chứng phổ biến nhất |
| Đăng ký quốc tế chỉ định Việt Nam | Được bảo hộ hoặc đang xét tại Việt Nam theo hệ thống quốc tế | Không hiện trong danh sách văn bằng trong nước nếu chỉ tra một nguồn |
| Nhãn hiệu có văn bằng đã hết hiệu lực | Hết hiệu lực chưa quá một thời hạn luật định, trừ trường hợp chấm dứt do không sử dụng | Nhiều người tưởng hết hạn là tự do dùng ngay |
| Nhãn hiệu nổi tiếng | Được công nhận hoặc chứng minh đáp ứng tiêu chí nổi tiếng | Phạm vi bảo vệ rộng, kể cả sản phẩm không tương tự |
| Nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi | Có chứng cứ sử dụng rộng rãi cho sản phẩm trùng hoặc tương tự | Thường được nêu qua ý kiến người thứ ba |
| Tên thương mại | Đang được sử dụng, trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh | Không cần đăng ký mới được bảo vệ |
| Chỉ dẫn địa lý | Đã được bảo hộ cho sản phẩm có liên quan | Nhãn chứa địa danh dễ đụng nhóm này |
| Quyền khác | Kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả, tên giống cây trồng, tên nhân vật đã được bảo hộ | Hay gặp với nhãn hình phức tạp hoặc tên nhân vật |
Đối chứng phải có trước theo đúng mốc thời gian: so với ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của bạn, không so với ngày bạn bắt đầu kinh doanh.
Đơn đang chờ cũng là đối chứng
Đây là điểm hay làm người nộp đơn bất ngờ nhất. Một đơn nộp trước bạn, dù chưa được cấp, vẫn có thể được dùng làm đối chứng với điều kiện cuối cùng nó được cấp văn bằng. Thẩm định viên vì vậy hoặc nêu đơn đó như một lý do tiềm năng, hoặc tạm dừng kết luận đơn của bạn cho đến khi đơn kia có kết quả.
Hệ quả là số phận đơn của bạn gắn với số phận đơn kia. Nếu đơn kia bị từ chối, bị rút, hay bị coi như rút bỏ, vật cản biến mất. Nếu đơn kia được cấp, bạn phải tìm hướng khác: thu hẹp danh mục, sửa nhãn, xin thư đồng ý của chủ đơn kia, hoặc chấp nhận bị từ chối ở phần trùng.
Khi tra cứu trước khi nộp, đừng bỏ qua những đơn đang chờ. Cũng đừng giả định một đơn nộp trước "chắc sẽ bị từ chối" chỉ vì nhìn có vẻ yếu; thẩm định viên có thể đánh giá khác.
Văn bằng hết hiệu lực không lập tức thành đất trống
Một nhãn đã hết hạn bảo hộ vì chủ không gia hạn, hoặc văn bằng bị chấm dứt vì lý do khác, có vẻ như đã rời khỏi hệ thống. Nhưng luật dành một khoảng thời gian sau đó, trong đó văn bằng cũ vẫn có thể được dùng làm đối chứng, trừ trường hợp văn bằng bị chấm dứt vì nhãn không được sử dụng. Lý do là người tiêu dùng còn nhớ nhãn cũ một thời gian sau khi nó ngừng được bảo hộ, và người mới đăng ký nhãn đó dễ khiến người mua tưởng là sản phẩm cũ quay lại.
Điều này có hệ quả cho cả hai phía. Nếu bạn muốn đăng ký một tên từng là nhãn của người khác, hãy kiểm tra văn bằng đó hết hiệu lực từ bao giờ và vì lý do gì. Nếu bạn là chủ nhãn đã lỡ hạn gia hạn, khoảng thời gian này là cơ hội để bạn nộp lại đơn mới cho chính nhãn của mình trước khi người khác kịp làm.
Thời hạn chính xác và các trường hợp ngoại lệ được quy định trong luật hiện hành, bạn nên đối chiếu trực tiếp thay vì dựa vào trí nhớ của người khác.
Những đối chứng không nằm trong cơ sở dữ liệu nhãn hiệu
Tên thương mại. Tên mà doanh nghiệp dùng để phân biệt mình trong kinh doanh được bảo vệ khi đang được sử dụng thật, không cần đăng ký riêng như nhãn hiệu. Thẩm định viên không luôn có công cụ tra hết tên thương mại, nên đối chứng loại này thường xuất hiện qua ý kiến người thứ ba hoặc tranh chấp sau cấp.
Nhãn được sử dụng và thừa nhận rộng rãi. Một nhãn chưa đăng ký nhưng đã được người tiêu dùng biết đến rộng rãi cho một loại sản phẩm cũng có thể chặn đơn của người khác. Cần chứng cứ cụ thể về phạm vi sử dụng.
Chỉ dẫn địa lý. Nhãn có chứa tên một vùng nổi tiếng về sản phẩm đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý có thể bị từ chối với sản phẩm cùng loại, vì dễ làm người mua hiểu sai về nguồn gốc.
Quyền tác giả và kiểu dáng. Nhãn hình sao chép một tác phẩm mỹ thuật của người khác, hoặc trùng với kiểu dáng công nghiệp đã được bảo hộ, có thể bị coi là xâm phạm quyền có trước.
Nhãn của chính mình có bị dùng làm đối chứng không
Một câu hỏi thực tế: doanh nghiệp đã có nhãn "Hoa Sen Bạc" được bảo hộ, giờ nộp tiếp "Hoa Sen Bạc Premium" cho cùng sản phẩm thì nhãn cũ có chặn nhãn mới không. Về nguyên tắc, nhãn của cùng một chủ không gây nhầm lẫn về nguồn gốc với chính chủ đó, và luật có khái niệm nhãn hiệu liên kết cho các nhãn của cùng một chủ có liên quan đến nhau.
Rủi ro nằm ở chỗ thông tin chủ đơn phải thống nhất. Nếu nhãn cũ đứng tên cá nhân giám đốc, nhãn mới đứng tên công ty, về mặt hồ sơ đó là hai chủ khác nhau. Thẩm định viên có thể nêu nhãn cũ làm đối chứng, và bạn phải giải quyết bằng cách thống nhất chủ sở hữu hoặc cung cấp thư đồng ý.
Tương tự, khi một doanh nghiệp đổi tên hoặc sáp nhập mà chưa ghi nhận thay đổi chủ văn bằng, hồ sơ cũ và đơn mới có thể bị coi là của hai chủ. Giữ thông tin chủ sở hữu thống nhất trên mọi văn bằng và đơn là cách đơn giản để tránh tự chặn mình.
Ví dụ giả định: một nhãn, nhiều loại đối chứng
Một công ty ở Quảng Ninh nộp đơn nhãn "Vịnh Ngọc" kèm hình con sò cách điệu cho hải sản khô, nước mắm và dịch vụ nhà hàng. Trong quá trình thẩm định, thẩm định viên tìm thấy một văn bằng "Vịnh Ngọc" cho nước mắm của chủ khác, còn hiệu lực. Sau khi đơn được công bố, một nhà hàng lâu năm ở địa phương gửi ý kiến cho biết họ mang tên thương mại gần giống và đang hoạt động trong lĩnh vực ăn uống cùng khu vực.
Với nước mắm, văn bằng còn hiệu lực là đối chứng rõ ràng, khả năng cao bị từ chối ở phần này. Với dịch vụ nhà hàng, tên thương mại của nhà hàng kia có thể trở thành căn cứ, tuỳ chứng cứ về việc sử dụng thật và khu vực kinh doanh. Với hải sản khô, nếu không có đối chứng nào khác, phần này có thể được cấp.
Công ty khi đó đứng trước lựa chọn: chấp nhận văn bằng cho hải sản khô, đồng thời cân nhắc dùng một tên khác cho nước mắm và nhà hàng; hoặc thương lượng với các bên có quyền trước. Ví dụ cho thấy một nhãn có thể gặp đối chứng thuộc nhiều nhóm khác nhau, mỗi nhóm cần cách xử lý riêng.
Tự tra đối chứng trước khi nộp: đừng bỏ sót nguồn nào
Tra cứu trước khi nộp nên đi qua nhiều nguồn, vì mỗi nguồn chỉ phủ một phần các nhóm đối chứng.
- Cơ sở dữ liệu nhãn hiệu của Cục, gồm cả đơn đang chờ và văn bằng đã hết hiệu lực gần đây.
- Dữ liệu đăng ký quốc tế có chỉ định Việt Nam, tra theo chữ và theo hình.
- Danh sách chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ, nếu nhãn của bạn chứa địa danh.
- Cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, để xem có tên doanh nghiệp gần giống trong cùng lĩnh vực.
- Tìm kiếm thông thường trên mạng và các sàn bán hàng, để phát hiện nhãn đang được dùng rộng rãi mà chưa đăng ký.
Tra cứu kỹ không bảo đảm đơn được cấp, nhưng giúp bạn biết trước những vật cản lớn. Hướng dẫn tra chi tiết có ở TraCuuThuongHieu.com trong cùng nhóm site nhãn hiệu.
Nhận thông báo có đối chứng: đọc theo trình tự
Khi thông báo dự định từ chối nêu đối chứng, việc đầu tiên là hiểu đúng đối chứng đó, trước khi nghĩ đến lập luận.
- Ghi lại thông tin từng đối chứng: số đơn hoặc số văn bằng, chủ sở hữu, mẫu nhãn, danh mục, ngày nộp.
- Kiểm tra tình trạng hiện tại của đối chứng: còn hiệu lực, đã hết hạn, đang chờ, đã bị rút hay từ chối.
- Xác định đối chứng thuộc nhóm nào trong bảng trên, vì mỗi nhóm có điều kiện riêng.
- So sánh sản phẩm: đối chứng đụng vào toàn bộ hay chỉ một phần danh mục của bạn.
- So sánh dấu hiệu theo tiêu chí cấu trúc, cách đọc, ý nghĩa, ấn tượng tổng thể.
- Liệt kê các hướng xử lý: thu hẹp, sửa nhãn, lập luận khác biệt, xin thư đồng ý, chờ đối chứng có kết quả.
- Chọn hướng phù hợp và soạn văn bản trả lời trong thời hạn ghi trên thông báo.
Kỹ thuật viết văn bản trả lời được trình bày kỹ ở chuyên mục trả lời thông báo dự định từ chối trên site.
Câu hỏi thường gặp
Đơn nộp trước nhưng chưa được cấp có chặn được đơn của mình không?
Có thể. Đơn nộp trước được dùng làm đối chứng nếu cuối cùng được cấp văn bằng. Trong thời gian đơn đó chưa có kết quả, đơn của bạn có thể phải chờ.
Nhãn của người khác đã hết hạn thì mình đăng ký ngay được không?
Chưa chắc. Luật dành một khoảng thời gian sau khi văn bằng hết hiệu lực, trong đó văn bằng cũ vẫn có thể là đối chứng, trừ trường hợp chấm dứt vì không sử dụng. Đối chiếu thời hạn hiện hành trước khi nộp.
Tên doanh nghiệp của người khác có chặn được nhãn hiệu của mình không?
Có thể, nếu tên thương mại đó đang được sử dụng thật trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh, và nhãn của bạn dễ gây nhầm lẫn với nó. Đối chứng loại này thường xuất hiện qua ý kiến của chính doanh nghiệp đó.
Nhãn quốc tế có được dùng làm đối chứng ở Việt Nam không?
Đăng ký quốc tế chỉ định Việt Nam có hiệu lực tại Việt Nam như nhãn nộp trong nước khi được chấp nhận bảo hộ, nên được dùng làm đối chứng bình thường. Khi tra cứu cần tra cả nguồn dữ liệu này.
Nhãn cũ và nhãn mới của cùng một công ty có chặn nhau không?
Về nguyên tắc không, nếu cùng một chủ sở hữu trên hồ sơ. Vấn đề phát sinh khi thông tin chủ sở hữu không thống nhất, ví dụ một nhãn đứng tên cá nhân, một nhãn đứng tên công ty.
Thẩm định viên có tìm hết mọi đối chứng không?
Thẩm định viên tra cứu theo nghiệp vụ trong các cơ sở dữ liệu sẵn có, nhưng không thể biết hết mọi quyền chưa đăng ký như tên thương mại hay nhãn được sử dụng rộng rãi. Những quyền này thường được nêu qua ý kiến người thứ ba hoặc tranh chấp sau cấp.